Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2016

Lý do tăm tối của tình yêu con người

heartbeat art & design heart
Tim bạn đập nhanh hơn, các tuyến tiết ra các giọt mồ hôi nhỏ xíu và cơ thể bắt đầu tạo ra hóoc môn làm bạn hơi lâng lâng và ấm áp trong lòng.

Đó là một vài trong số những quá trình sinh học xảy ra khi bạn bị xô vào sự dằn vặt ban đầu của tình yêu, tức sự say đắm, khó mà diễn tả được cái gì như thế nào.

image
Tình yêu là một phần lan tỏa của loài người mà nghệ thuật và văn hoá có đầy những dẫn chứng về tình yêu chiến thắng và tình yêu thất bại. Thư viện có vô vàn sách truyện tình.

“Tình yêu không ngốc dại về thời gian,” Shakespeare viết trong thơ tình 116: “Tình yêu không thay đổi theo giờ và tuần ngắn ngủi / Nhưng thậm chí đưa nó đến bờ vực tận số.”

Có vẻ như Shakespeare chính xác hơn người ta tưởng. Khi nghiên cứu kỹ sự tiến hóa của tình yêu trong thế giới động vật ta thấy rõ ràng tình yêu đã có sự khởi đầu từ rất lâu trước khi loài người xuất hiện. Hơn thế nữa, tình yêu có thể được sinh ra từ một cái gì đó rất ác hiểm.

love sexy kiss zac efron amor
Hành trình để tới tình yêu như ngày nay mở đầu bằng tình dục là một trong những thứ đầu tiên mà cuộc sống trên trái đất đã nghĩ ra. Tình dục mới đầu là một cách để chuyển tiếp gien của một sinh vật sang thế hệ sau.

Để tới tình yêu, cuộc sống cần một bộ não để điều khiển cảm xúc. Phải mất một vài tỷ năm sau khi cuộc sống bắt đầu thì bộ não mới bắt đầu tiến trình hình thành. Thoạt đầu nó chỉ là một cụm tế bào.

image
Tình yêu đã có từ lâu trước khi có loài người
Tua nhanh cho tới khoảng 60 triệu năm trước đây khi mà những thành viên đầu tiên của gia đình chúng ta (loài linh trưởng) xuất hiện. Thêm hàng triệu năm tiến hóa nữa, một vài loài linh trưởng tiến hóa với bộ não càng lớn hơn để cuối cùng tạo ra loài người hiện đại.

Nhưng có một vấn đề. Khi bộ não chúng ta lớn lên thì những đứa trẻ phải được sinh ra sớm hơn sự phát triển của nó, nếu không đầu chúng quá to và không qua được đường sinh sản.

Vì thế, con mới đẻ của loài khỉ đột, vượn tinh tinh và con người gần như hoàn toàn bất lực, buộc bố mẹ phải chăm sóc chúng thêm một thời gian nữa.

Thời gian này kéo dài sẽ có thêm rủi ro mới.

Ở nhiều loài linh trưởng hiện nay, một mẹ có con còn đang phụ thuộc thì không sẵn sàng giao phối cho đến khi vượn con rời mẹ. Để tiếp cận với vượn mẹ, vượn bố trước hết phải giết vượn con. Kiểu giết con non có ở nhiều loài, kể cả khỉ đột, khỉ và cá heo.

image
Giống người Homo erectus có não lớn hơn tổ tiên
Điều này đã gợi ý cho Kit Opie, ở University College London và đồng nghiệp của mình đưa ra một một ý tưởng gây ngạc nhiên. Gần 1/3 số linh trưởng có quan hệ một đực một cái, và năm 2013 Opie cho rằng cách hành xử này đã tiến hóa để ngăn ngừa việc giết con non.

Đội ngũ của ông đã tìm tòi gia hệ của loài linh trưởng để thiết lập xem cách hành xử như giao phối và chăm sóc của bố mẹ đã thay đổi như thế nào trong quá trình tiến hóa. Những phân tích của họ cho thấy việc con non bị giết là động lực để tạo ra chế độ một đực một cái trong 20 triệu năm bởi vì nó luôn đi trước chế độ này trong quá trình tiến hóa.

Những loài khác lại tìm ra các giải pháp khác, và cũng là lý do vì sao không phải tất cả các loài linh trưởng là một đực một cái. Thí dụ vượn tinh tinh và bonobo đã giảm thiểu việc con non bị giết bằng cách lang chạ bừa bãi. Các con đực không giết con non vì nó không biết con nào là con nó.

Nhưng ở những loài mà con đực và con cái bắt đầu gắn kết với nhau thì khả năng sống sót của con non nhiều hơn vì có thêm sự chăm sóc của con đực. Kết quả là chế độ một đực một cái được quá trình tiến hóa ưu tiên chọn lọc.

Quá trình này có thể là một quá trình một chiều, Robin Dunbar ở đại học Oxford- Anh nói. Có thể nó đã đưa đến những thay đổi lớn trong bộ não “để giữ cho cặp đôi gắn kết với nhau suốt đời”. Điều này bao gồm sự ưu tiên cho đối tác của mình và chống lại địch thủ khả dĩ.

image
Những phần có từ lâu trong não sẽ hoạt động khi chúng ta đang yêu.
Điều này lại có thể là “cú hích” làm thay đổi sự tiến hóa của loài người, Opie nói. Sự chăm sóc bổ sung của người đàn ông đã hỗ trợ cho xã hội sơ khai của loài người phát triển và thịnh vượng, và “cho phép bộ não chúng ta lớn hơn não những loài khỉ gần nhất”.

Có những bằng chứng cho việc này. Khi bộ não lớn lên thì sự hợp tác và quy mô nhóm cũng lớn theo. Chúng ta có thể thấy xu thế là nhóm lớn hơn và sự hợp tác nhiều hơn ở loài người đứng thẳng (Homo erectu)s sống gần 2 triệu năm trước đây.

Hơn nữa, hình như những hình thái tình yêu là tùy thuộc vào các vùng trong bộ não mà chúng chỉ mới xuất hiện gần đây trong lịch sử tiến hóa của chúng ta.

Stephanie Cacioppo của trường đại học Chicago Illinois, Mỹ, đã lục tìm những tài liệu khoa học nghiên cứu ảnh chụp cộng hưởng từ (fMRI) về các phần của não liên quan đến tình yêu. Bà đã thấy tình trạng tình yêu mạnh mẽ nhất và “ảo” nhất phụ thuộc vào một phần của bộ não được gọi là nếp uốn ở góc.

Điều này được coi là quan trọng đối với một số hình thái của ngôn ngữ, thí dụ như phép ẩn dụ . Điều này dễ hiểu vì nếu không có ngôn ngữ phức tạp thì chúng ta không thể diễn tả được những hình thái tinh tế và mãnh liệt của cảm xúc.

Có thể hình dung được là nếp uốn ở góc của não Shakespeare đã hoạt động khi ông viết vần thơ về tình yêu.

image
Tình yêu lâu bền có nguồn gốc cổ xưa.

Nếp uốn ở góc chỉ có ở các loài vượn lớn và con người.

Chúng ta thực tế không biết nó đóng vai trò gì trong cảm xúc ở loài khỉ, Cacioppo nói, vì những thử nghiệm bổ sung chưa được thực hiện ở khỉ”. Do vậy chúng ta không biết vượn tinh tinh có cảm xúc thế nào trước bạn tình. Rõ ràng là khỉ không làm thơ, nhưng phần lớn con người cũng vậy.

Nhưng những phát hiện của Cacioppo cũng hỗ trợ phần nào cho ý tưởng là não phát triển đã giúp cho tình yêu nẩy nở.

Tuy nhiên ý kiến của Opie về việc giết con non đã kích hoạt quá trình này thì còn nhiều tranh cãi.

Nhiều người không nhất trí như nhà nhân loại học Robert Sussman của trường đại học Washington ở Missouri, Mỹ. Ông nói cả chế độ một đực một cái và việc giết con non là những hành xử bất thường và có thể không có liên quan.

Có những giải thích khác. Một nghiên cứu năm 2014 cho rằng chế độ một đực một cái là tiến hóa của việc “giữ bạn tình”.

image
Tình yêu ở ngay quanh ta nhưng nó bắt đầu từ đâu? Love is all around us but where did it begin?
Một năm sau, một nghiên cứu khác thiết lập sự tiến hóa của một nhóm vượn cáo cho thấy rằng việc tranh chấp vì bạn tình có thể đã khuyến khích tạo ra việc cặp thành đôi.

Opie không đồng ý vì những phương pháp của việc nghiên cứu này “không thể được sử dụng để xác định việc chuyển đổi sang chế độ cặp đôi”.

Điều chắc chắn đúng là nhiều loài vượn vẫn sống bình thường mà không cần cặp đôi và không có bạn tình thân thuộc. Nhưng có một điểm chung cho tất cả các loài linh trưởng là sự gắn kết mạnh mẽ giữa mẹ và con.

Điều này đúng “ngay cả với loài vượn đêm sống cô độc,” Sussman nói. Ông cho rằng quy trình của bộ não để xử lý quan hệ mẹ con đã bị “chiếm đoạt” để tạo ra tình yêu lãng mạn.
Có bằng chứng trong thần kinh học cho thấy rằng ông đúng.

Thật khó định nghĩa về tình yêu nhưng các nhà thần kinh học đồng ý rằng có nhiều giai đoạn gối đầu nhau.

image
Tình yêu có thể khó mà định nghĩa
Giai đoạn thứ nhất là sự đòi hỏi tình dục. Ta thích ai đó và vuốt ve làm tiết hoóc môn, ta có có cảm giác mãnh liệt muốn ở bên nhau.

Một số phần trong hệ thống limbic (mạng thần kinh não) hoạt động mạnh ở giai đoạn này, trong đó có tùy não là nơi xử lý các cảm xúc mãnh liệt. Phần nhân não hoạt động mạnh. Nó là trung tâm của hệ thống thưởng của não, khi ta trông thấy một khuôn mặt đẹp thì nó kích hoạt, nghĩa là ta được thưởng.

Khi ham muốn chuyển sang giai đoạn tiếp theo (tình yêu lãng mạn) thì hệ thống limbic đóng vai trò chính. Nó bơm ra dopamine sảng khoái và oxytocin hoóc môn làm con người gắn kết với nhau.

Sự tiến triển này thể hiện rằng những thích thú mạnh mẽ của ham muốn tình dục có thể dẫn đến tình yêu, Casioppo nói. “Tình yêu có xu thế phát triển từ ham muốn. Ta không thể yêu say đắm người mà ta không ham muốn.”

Đồng thời những vùng khác cao cấp hơn của não bị lấn át, thí dụ như những phần của vỏ não ở trán bị dừng hoạt động. Vùng này là vùng để đưa ra quyết định hợp lý.

Ở giai đoạn này chúng ta bị thực sự “say tình”. Người đang yêu không xử lý thế giới quanh họ, Thomas Lewis nhà thần kinh học ở Đại Học California, Mỹ, nói. “Họ không đánh giá người một cách kỹ càng hoặc sáng suốt.”

love friends sad story channing tatum
Serotonin, là chất thường làm ta bình tĩnh, cũng bị lấn át. Điều này dễ hiểu khi ta thấy ta bị chi phối đến mức nào khi yêu. Lượng serotonin trong não cũng thấp đối với những người có bệnh tâm thần.

“Sự tiến hóa muốn rằng hai cá thể ở với nhau thật lâu, làm sao để tạo được thai nhi,” Lewis nói.

Nhưng một khi việc làm đã xong thì cặp đôi không còn gắn kết ở trạng thái mạnh mẽ nữa. Sau nhiều tháng, đôi khi chỉ sau một thời kỳ “trăng mật” trung gian, thì giai đoạn thân tình bắt đầu.

Bây giờ thì mức serotonin và dopamine trở lại bình thường. Nhưng vẫn còn tình cảm gần gũi do có thêm chất oxytocin. Nếu ta ép giảm mức oxytocin ở những loài một đực một cái, như loài chuột đồng, thì chúng không còn cặp đôi nữa.

“Sự gắn kết giữ con người với nhau không do chất dopamine điều khiển hoặc do sự phấn chấn mạnh mẽ,” Lewis nói. “"Có phần thưởng, song nó ôn hòa hơn.”

Điều này đưa ta trở lại với ý kiến của Sussman là tình yêu lãng mạn tiến hóa từ sự gắn kết mẹ-con. Sự gắn kết lâu dài giữa các cặp đôi là tương tự như sự gắn kết mẹ-con và phụ thuộc vào các quá trình hoóc môn tương tự.

Ở cả động vật và con người, nghiên cứu cho hay là sự chia ly với cá thể mình yêu gây ra những cảm xúc đau khổ tương tự.

Những tình cảm này ăn sâu bám rễ trong lịch sử tiến hóa.

love film kiss feelings emotions
Hệ thống mạng não limbic đóng vai trò chính trong giai đoạn của tình yêu. Nhiều loài có vú khác, thậm chí cả loài bò sát, có hình thái nào đó của hệ thống này. Vùng này của não đã có từ lâu trước loài vượn đầu tiên.

“Những khu vực có từ lâu đời nhất của não có tham gia vào sự gắn bó, kết đôi, và các khu vực này được kích hoạt ở nhiều loài,” Cacioppo nói.

Nói cách khác, não động vật đã khởi nguồn những hình thái nào đó của tình yêu trong hàng trăm triệu năm.Trong quá trình tiến hóa, các yếu tố khác đã làm cho tổ tiên chúng ta có não lớn hơn, nó cho phép tình yêu lãng mạn khống chế chúng ta.

Cho dù là việc giết con non hay việc gắn kết mẹ-con đã đẩy chúng ta lại gần với nhau thì chúng ta có thể cám ơn những gì đã xẩy ra. Phần lớn những thành công mà loài người có được là nhờ ở cái nhỏ bé được gọi là tình yêu.



Melissa Hogenboom

black and white couple kissing young forever

Những thứ kỳ quặc con người vứt lại Mặt Trăng
Căn bệnh thời đại của sinh viên, học sinh, “lo lắn...
Có thể lừa phỉnh bộ não hay không?
Nữ nhiếp ảnh gia Shannon Benson xinh đẹp và tình y...
Người Việt tranh ăn ở Malaysia
Khi tiền phạt trở thành tiền hối lộ?
Những nét hoang dại trong tình dục
Minh Béo và vấn đề tại ngoại hầu tra
Mơ hồ về xâm hại trẻ em
Diễn viên hài Việt Nam bị bắt ở Mỹ
Trần Lực: bóng ma giữa ban ngày
Bí ẩn những sinh vật “nửa đực nửa cái”
Y tế Trung Cộng và khủng hoảng niềm tin
Ăn bằng tô ngon hơn ăn bằng đĩa?
Tính chính trị của sự sợ hãi
Ước mơ giàu có
Bí quyết tránh quên tên người vừa gặp
Tiền xu ném xuống các đài phun nước
Hủy hoại cuộc đời: bằng cách cho con chơi smartpho...
Kẻ gieo rắc văn hoá sợ hãi cần bị trị ra sao?

Thứ Sáu, 1 tháng 4, 2016

Những thứ kỳ quặc con người vứt lại Mặt Trăng

science moon nasa astronaut apollo
Qua các chuyến đáp xuống Mặt Trăng, con người đã bỏ lại nhiều thứ
Loài người đã trải qua 300 giờ khám phá bề mặt Mặt Trăng, nhờ vào sáu chuyến đáp xuống của tàu Apollo.

Phi hành gia Neil Armstrong và Buzz Aldrin đã trải qua 21 giờ và 36 phút chớp nhoáng trên Mặt Trăng với chuyến đi lịch sử Apollo 11, nhưng các lần hạ cánh sau đó mỗi lần đều kéo dài đến ba ngày.

image
Trong những khoảng thời gian đó, loài người đã vứt bỏ lại rất nhiều thứ lại nơi này nhằm lấy chỗ trên tàu cho những mẫu đá quý giá cần nghiên cứu.

Trên Mặt Trăng có những nơi vứt chất đầy những rác thải con người bỏ lại.

image
Các dấu chân của phi hành gia vẫn còn trên Mặt Trăng
Có thể kể đến 96 túi phân, nước tiểu và chất nôn mà 12 phi hành gia của tàu Apollo bỏ lại trên bề mặt Mặt Trăng, nơi mà họ gọi vắn tắt là nhà.

Trong số những món có giá trị bị vứt lại có 12 chiếc camera của hãng Hasselblad.

Các phi hành gia khi trở về Trái Đất mang theo phim chụp nhưng bỏ lại tất cả các thân máy trên Mặt Trăng, chỉ đem về một chiếc duy nhất.

Đó là chiếc máy ảnh của phi hành gia Edgar Mitchell đi trong chuyến Apollo 14, mà lý do duy nhất khiến ông đem nó theo về Trái Đất chỉ là bởi không đủ thời gian để tháo phim ra khi đóng gói hành lý.

mission apollo
Con người bỏ lại nhiều thứ để có thể đem về các mẫu vật nghiên cứu
Chiếc camera này hồi 2014 đã được bán với giá 910.000 đô-la Mỹ.

Ngoài ra, còn có một chiếc kính thiên văn mạ vàng do Tiến sĩ George Carruthers thiết kế. Đây là chiếc kính thiên văn duy nhất được dùng để quan sát từ bề mặt một thiên thể khác.

Vỏ ngoài mạ vàng có lẽ đã giúp chiếc kính tránh khỏi những tia bức xạ mặt trời nguy hiểm nhất trong suốt bốn thập niên nó bị bỏ lại trên Mặt Trăng.

space nasa 1960s space exploration moon walk
Tuy nhiên, rất nhiều món đồ vật nổi tiếng khác bị bỏ lại khác thì có lẽ đã hư hại nhiều.

Có lẽ toàn bộ sáu lá cờ Mỹ từng được cắm trên Mặt Trăng nay đã phôi phai trở thành màu trắng. Và chúng ta biết giờ chỉ còn năm lá cờ đứng vững, sau khi lá cờ mà tàu Apollo 11 cắm bị đập ngả ra trong quá trình các phi hành gia quay trở về khoang tàu Điều khiển/Dịch vụ.

image
Bức ảnh của gia đình phi hành gia Charles Duke đã phai màu
Bức ảnh gia đình nhà Duke, do phi hành gia Charles Duke của tàu Apollo 16 bỏ lại, giờ đây có lẽ cũng đã phai màu, nhưng dòng chữ ở mặt sau tấm ảnh do gia đình ghi xuống có lẽ vẫn còn nguyên: "Đây là gia đình phi hành gia Duke, từ Trái Đất. Đáp xuống Mặt Trăng tháng 4/1972."




William Park

World Science Festival science space nasa anniversary

Căn bệnh thời đại của sinh viên, học sinh, “lo lắn...
Có thể lừa phỉnh bộ não hay không?
Nữ nhiếp ảnh gia Shannon Benson xinh đẹp và tình y...
Người Việt tranh ăn ở Malaysia
Khi tiền phạt trở thành tiền hối lộ?
Những nét hoang dại trong tình dục
Minh Béo và vấn đề tại ngoại hầu tra
Mơ hồ về xâm hại trẻ em
Diễn viên hài Việt Nam bị bắt ở Mỹ
Trần Lực: bóng ma giữa ban ngày
Bí ẩn những sinh vật “nửa đực nửa cái”
Y tế Trung Cộng và khủng hoảng niềm tin
Ăn bằng tô ngon hơn ăn bằng đĩa?
Tính chính trị của sự sợ hãi
Ước mơ giàu có
Bí quyết tránh quên tên người vừa gặp
Tiền xu ném xuống các đài phun nước
Hủy hoại cuộc đời: bằng cách cho con chơi smartpho...
Kẻ gieo rắc văn hoá sợ hãi cần bị trị ra sao?
Anh Ba Sàm: lên kệ sách Amazon

Căn bệnh thời đại của sinh viên, học sinh, “lo lắng, thiếu tập trung, trầm cảm”

black and white black help white dead
Gần đây tôi có nghe các thầy cô giáo giảng dạy từ  bậc tiểu học cho đến đại học than phiền về sự lo ra và mất tập trung của phần lớn những em học sinh, sinh viên trong lớp học. Các em dường như mất khả năng kiên nhẫn và dễ trở nên mau chán. Giáo sư, khoa học gia chuyên môn nghiên cứu về sự nhận thức, Daniel William, lý luận rằng “Tôi nghĩ không phải các em không có khả năng tập trung mà các em cảm thấy không muốn hay không đáng bỏ công và nỗ lực vào việc học tập.”

Vấn đề chúng ta thấy ở đây là nếu các em ưa thích điều gì thì rất chú tâm vào việc đó, ngoài ra không muốn làm những việc không cảm thấy thú vị hay bị bắt buộc phải làm.

black and white help crazy dead run
Khi buồn chán, các em thường tìm kiếm những việc thú vị khác để làm. Cái gần tầm tay nhất vẫn là việc sử dụng smart phone(điện thoại thông minh) là một máy tính thu nhỏ mà cũng là một dụng cụ truyền thông (social media) . Nó giúp các em trò chuyện, chơi games, đọc sách, tìm thông tin tài liệu để làm bài tập, nghe nhạc và biết bao tiện lợi khác. Tuy nhiên tính tiêu cực của những dụng cụ truyền thông này cũng nhiều không kém. Nó khiến các em không tập trung được trong việc học hành. Các em có thể tiếp xúc với các người xấu trên mạng.

Các trang tình dục đầy rẫy ở đó, bao gồm việc có thể làm con mồi cho các kẻ sát nhân hay săn tìm tình dục kể cả các thầy cô giáo xấu. Ngoài ra internet còn là nơi các em bị bạn bè tấn công hay bắt nạt dễ dàng nhất. Do đó, social media  đã bị ngăn cấm dùng trong lớp học, có nơi cho phép nhưng phải dưới quyền kiểm soát và quan sát của các thầy cô giáo. Luật thì cấm, các em vẫn lén lút dùng vì sức lôi cuốn của nó rất mãnh liệt. Ngày nay, chính người lớn chúng ta hàng ngày, cũng bị gắn chặt, cuốn hút vào chiếc điện thoại thông minh cầm tay nói gì các em.

image
Ngoài lý do chán học, những áp lực của đời sống, ngày càng đè nặng lên các em và các giáo chức ngoài xã hội cũng như trong học đường. Các cuộc thi giáo dục được đặt ra trong các trường học ở Hoa Kỳ là một áp lực lớn. Các em tiểu học phải thi test hàng tuần, hàng tháng, hàng năm và toàn quốc nữa. Những luật lệ liên bang Hoa Kỳ gần đây đòi hỏi nhà trường phải theo dõi tiến trình học tập của các em gắt gao bằng các cuộc thi trắc nghiệm được gọi là test.

Ngoài ra các học khu và tiểu bang còn kèm thêm các test khác cùng test của liên bang. Trung bình một học sinh phải lấy 20 cuộc thi đánh giá và 10 cuộc thi trắc nghiệm mỗi năm từ lớp 3 cho tới lớp 8. Theo một cuộc nghiên cứu của the Council of the Great City Schools, các học sinh phải trải qua trung bình 113 cuộc thi có tiêu chuẩn từ lớp mầm non cho tới lớp 12. Riêng lớp 11, trong 1 năm có tới 27 ngày test hoặc 15% của một năm học, chưa kể các cuộc thi chuẩn bị cho các trường kỹ thuật chuyên môn và chuẩn bị vào đại học.

image
Thầy cô bị test hành và áp lực này trực và gián tiếp đổ lên đầu các em. Các em phải trực diện với nỗi lo học thi. Từ lúc sửa soạn. cho đến ngày thi, thật sự là những chuỗi hồi hộp, âu lo thường xuyên. Đặc biệt là các học sinh Việt Nam hay Á Đông, còn phải học thêm nhiều môn khác ngoài những giáo dục hàn lâm ở trường. Cũng do việc các bậc phụ huynh vì muốn các em bận rộn, biết thêm những kỹ năng sống khác, họ đã không ngại ngần bỏ tiền, thì giờ, công sức chở các  em đi học thêm các môn khác, như đàn, vũ, hát, bơi lội, võ thuật, hội hoạ.. v..v..Dĩ nhiên để đạt kết quả mong đợi, sức ép từ cha mẹ do việc bắt buộc tập tành cho các lớp học thêm này bỗng trở nên một gánh nặng mới. Tuy việc học đó giúp ích các em nhiều, nhưng chính nó lại góp phần vào tiêu tốn một số thời gian và tạo thêm áp lực trong sinh hoạt hàng ngày của các em.

Red Bull gaming games bike spin
Trong khi những quyến rũ của Ipad, Games on line, face book, twitter , texting đang chờ đợi, thế là các em chỉ muốn làm bài vở cho nhanh, cho có, để có chút thì giờ vui chơi và giải trí. Sau khi dùng óc để nhớ và làm bài tập, các em bắt đầu giải trí với Games và các thiết bị điện tử khác. Các trò chơi điện tử bắt đầu óc và đôi mắt các em hoạt động một cách chăm chú, liên tục, tận lực, chỉ sau vài giờ là tâm trí các em mệt nhoài.

Thời đại ngày nay là thời đại của bận rộn, của “multi tasking” tức “đa nhiệm”, là làm nhiều việc trong một lúc. Ai cũng vậy, khi làm một việc, ta dễ tập trung hơn. Làm một lúc hai ba bốn việc, sự hoàn hảo rất khó. Các em bây giờ có thói quen làm một lúc hai ba việc, vừa làm bài tập, vừa nghe nhạc, vừa texting, vừa chat trên face book.  Làm sao không có thiếu sót hay lỗi lầm. Một khi mắc vào thói quen làm hai ba việc một lúc, khi ngồi tập trung vào một việc, ngược với thói quen, các em sẽ dễ mau chán. Nhất là khi không thể tập trung, đầu óc sẽ bay nhảy lung tung, học hành khó đạt kết quả.

Nếu đời sống chịu áp lực kéo dài hay sức khoẻ tinh thần các em yếu, các em dễ lâm vào tình trạng lo âu, hồi hộp, trầm cảm mà khoa tâm lý học liệt vào bệnh lo âu(anxiety) hay rối loạn lo âu (anxiety disorder) .

image
Ngày nay, các em sinh viên là những người chịu áp lực chung quanh cuộc sống nhiều hơn cả. Ngoài việc học để trau dồi kiến thức chuyên môn cho con đường hướng nghiệp, có em còn phải đối đầu với vấn đề tài chánh và mưu sinh. Sự chán nản sẽ tăng cao khi các em rơi vào trạng thái mất định hướng cho tương lai. Không biết theo học ngành nghề nào, khi ra trường có tìm được việc làm không? Những ngành hái ra tiền thì khó học và đòi hỏi bằng cấp cao, trong khi năng lực của mình không thể kham nổi. Ngành dễ học thì khó tìm việc hoặc không tìm ra việc.

Trong khi học phí ngày càng cao ngất ngưởng, ghi danh phải chờ đợi vì lớp học thiếu thốn. 

Để tốt nghiệp, thời gian học đại học bây giờ kéo dài hơn ngày xưa vì nhiều lý do. Ngoài ra vì thích sống tự lập hay cha mẹ bắt ra riêng khi các em tới tuổi trưởng thành 18 hay 21, nhiều em phải đi làm toàn thời gian hay bán thời gian để có thể ra riêng và lo cho cuộc sống. Áp lực bỗng trở nên nặng như núi với các thanh thiếu niên sinh viên mới bước ra đời. Số sinh viên học sinh sau 18 tuổi chọn giải pháp ở chung với gia đình bây giờ rất nhiều. Các phụ huynh ngày nay cũng không nỡ đuổi con cái ra khỏi nhà,vẫn phải cưu mang khi chúng không tìm ra việc làm hay không có nơi nương tựa.

image
Con số sinh viên mắc bệnh tâm thần phải điều trị tăng nhanh hơn bao giờ hết. Một phần ba trong số các sinh viên đại học trong những năm qua đã gặp khó khăn trong việc ứng phó đến nỗi bị các căn bệnh như trầm cảm hoặc tối loạn lo âu. Theo báo cáo năm 2013 của National College Health Assessment. Có 120 ngàn sinh viên trên 150 đại học toàn quốc Hoa Kỳ bị mắc bệnh trên sau khi giám định.

image
Biểu đồ Student under pressure

Một thống kê khác là tiếng chuông báo động lớn hơn. Trong những năm qua, có hơn 30% sinh viên tìm đến bác sĩ tâm thầm điều trị với tình trạng nghiêm trọng vì các em có ý định hay đã từng tự tử. Bác sĩ tâm thần Ben Locke, ở đại học Pennsylvania State University, tiết lộ, “Đến năm 2014 con số sinh viên muốn kết liễu đời mình tăng thêm khoảng 24 % nữa.” Ông cũng là giám đốc trung tâm Collegiate Mental Health(CCMH). Đây là một tổ chức gom góp những dữ liệu sức khoẻ y tế tâm thần từ hơn 230 đại học hoặc các trung tâm y tế tâm thần khắp nơi gởi về.

image
Những người làm việc trong ngành cố vấn trong vòng một thập niên qua đã không ngừng róng chuông báo động liên tục rằng đang có chuyện gì bất thường đang xảy ra cho các sinh viên về sức khoẻ tâm thần của họ. Bác sĩ Lock thêm,  “Với báo cáo năm nay(2015), chúng ta có thể khẳng định rõ ràng là các em đã và đang có vấn đề tâm thần”.

image
Biểu đồ College and University counseling center presenting concerns

Một trong những lý do gia tăng dễ hiểu nhất là vì con số sinh viên ghi danh học đại học ngày nay gia tăng. Cộng thêm con số sinh viên trước đây mắc những bệnh như trầm cảm(depression), tâm thần phân liệt(schizophrenia), thiếu chú ý và quá hiếu động(ADHD) hay tự kỷ(autism), được cho phép vào đại học nhờ sự chữa trị và thuốc thang. Tuy nhiên khi chấp nhận những thanh thiếu niên trẻ này thì hẳn nhiên sẽ có nhiều sinh viên hơn tìm đến trung tâm cố vấn cho bệnh tâm thần.

Vai trò cha mẹ rất cần thiết trong việc phát hiện và giúp đỡ các em nếu các em có bệnh. 

image
Đối với các chứng bệnh mới phát triển hay còn nhẹ, các phụ huynh cần chú ý tìm ra triệu chứng của các em để giúp đỡ. Khi phát hiện ra bệnh trạng, cần phải đưa đến các bác sĩ tâm lý hay tâm thần ngay để khám nghiệm. Gần gũi và trò chuyện với các em sẽ dễ hiểu được các em có gặp khó khăn trong cuộc sống hay không. Xin được trình bày thêm về các phương pháp giúp đỡ các em học sinh, sinh viên về vấn đề này trong một bài khác.



Trịnh Thanh Thủy


Tài liệu tham khảo
Do students take too many tests? Congress to weigh question
http://www.pbs.org/newshour/rundown/congress-decide-testing-schools/
Surveys show increase in stress among college students
https://news.fiu.edu/2015/04/surveys-show-increase-in-stress-among-college-students/86911
Teens feeling stressed, and many not managing it well

http://www.usatoday.com/story/news/nation/2014/02/11/stress-teens-psychological/5266739/#

games people things book someone

Có thể lừa phỉnh bộ não hay không?
Nữ nhiếp ảnh gia Shannon Benson xinh đẹp và tình y...
Người Việt tranh ăn ở Malaysia
Khi tiền phạt trở thành tiền hối lộ?
Những nét hoang dại trong tình dục
Minh Béo và vấn đề tại ngoại hầu tra
Mơ hồ về xâm hại trẻ em
Diễn viên hài Việt Nam bị bắt ở Mỹ
Trần Lực: bóng ma giữa ban ngày
Bí ẩn những sinh vật “nửa đực nửa cái”
Y tế Trung Cộng và khủng hoảng niềm tin
Ăn bằng tô ngon hơn ăn bằng đĩa?
Tính chính trị của sự sợ hãi
Ước mơ giàu có
Bí quyết tránh quên tên người vừa gặp
Tiền xu ném xuống các đài phun nước
Hủy hoại cuộc đời: bằng cách cho con chơi smartpho...
Kẻ gieo rắc văn hoá sợ hãi cần bị trị ra sao?
Anh Ba Sàm: lên kệ sách Amazon
Tường thuật phiên tòa Anh Ba Sàm và cô Nguyễn Thị ...